ĐỊA DANH TRONG CA DAO XỨ QUẢNG (Phạm Tuấn Vũ)

12:48 |

Ở mỗi địa phương, so với các thể loại văn học dân gian khác (như truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, thành ngữ, tục ngữ...), ca dao bao giờ cũng nhắc đến các địa danh ở địa phương mình với số lượng lớn hơn cả. Bởi bộ phận văn học dân gian này không những có số lượng tác phẩm lớn mà còn mang tính địa phương rõ nét. Do đó, ca dao địa phương, đặc biệt là bộ phận ca dao địa danh, được xem như một bảo tàng lịch sử, nơi lưu giữ một lượng lớn địa danh của địa phương mình cũng như chứng kiến sự biến đổi của nhiều địa danh trong tiến trình lịch sử. Ca dao xứ Quảng không nằm ngoài đặc điểm mang tính phổ biến này.

Quảng Nam - Đà Nẵng là một trong những địa phương của cả nước có kho tàng ca dao khá đồ sộ. Trong đó, bộ phận ca dao địa danh chiếm số lượng lớn với hàng trăm tên gọi được nhắc đến. Nhiều địa danh vẫn còn đến ngày nay và cũng có những địa danh đã lùi vào quá khứ nhưng nhìn chung, hệ thống địa danh trong ca dao xứ Quảng không những có số lượng lớn mà còn rất phong phú, đa dạng. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, hệ thống địa danh trong ca dao xứ Quảng mang mấy đặc điểm chính như sau:

Một là, địa danh được phản ánh trong ca dao xứ Quảng có số lượng lớn, trải rộng theo không gian địa lý. Từ Đà Nẵng đến Trà My, từ vùng núi cao về miền biển đảo, hầu như ở huyện nào cũng có một số địa danh được nhắc đến trong ca dao. Tuy nhiên, sự phân bố của các địa danh này không đồng đều. Ở những địa phương có lịch sử cư trú lâu đời, dân cư đông đúc, kinh tế phát triển, đời sống văn hóa phong phú, gắn với những biến cố lịch sử lớn hoặc có nhiều thắng cảnh, sản vật như Đà Nẵng, Hội An, Duy Xuyên, Tam Kỳ... địa danh thường được phản ánh với số lượng nhiều hơn.

Hai là, địa danh được nói đến trong ca dao xứ Quảng khá đa dạng về loại hình, với nhiều tiểu loại khác nhau. Địa danh chỉ địa hình tự nhiên có núi (như Quê em có núi Ngũ Hành/ Có nghề khắc đá lừng danh khắp vùng), đèo (Gập ghềnh Giảm Thọ, Đèo Le/ Cu ngói quẫy mè, cà cưỡng còng khoai), dốc (Đường mô xa bằng đường Gia Cốc/ Dốc mô ngược bằng dốc Phú Cang), hòn (Năm hòn nằm đó không sai/ Hòn Khô, hòn Dài lố nhố thêm vui), hang (Rủ nhau cơm gói ra Hòn/ Muốn ăn được yến phải lòn hang Khô), lạch (Sông Thu Bồn chảy ra cửa Đại/ Lạch Bình Long chảy mãi ra Hàn), vũng (Tai nghe súng nổ đì đùng/ Tàu Tây đã lại vũng Thùng hôm qua), sông (Sông Tiên nước chảy ngược dòng; Sông Thu chẳng thiếu đò đưa), cửa [sông, biển] (Ngó về cửa Đại, than ôi; Từ ngày Tây lại cửa Hàn), gò (Nương dâu xanh thắm quê mình/ Ngó lên gò Nổi đượm tình thiết tha), cồn (Ngó lên chợ Tổng bao xa/ Bước qua Phú Thượng, Đại La, Cồn Dầu), bãi [dâu] (Bãi dâu Đại Lộc lờ mờ bên sông), biển (Em xuôi biển Rạng cùng anh/ Được ăn rau mức nấu canh cá chuồn),...

Địa danh chỉ công trình xây dựng tuy có số lượng ít hơn nhưng cũng khá đa dạng với một số tiểu loại chính như: cầu (Hẹn nhau lại gặp bến cầu Rô Be; Bao giờ cầu Mống gãy đôi), đường (Đường mô xa được đường Gia Cốc; Đào sông Câu Nhí, đắp đàng Bồng Miêu), chợ (Nhớ cô dệt đũi chợ Chùa/ Rượu ngon chợ Vạn bốn mùa anh say), chùa (Ai đi phố Hội, chùa Cầu; Ngập chùa Non Nước lời đồn em mới tin), miếu (Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra), lầu (Tam Kỳ, chợ Vạn bao lâu/ Ngó qua đường cái thấy lầu Ông Tây), thành (Quảng Nam có núi Ngũ Hành/ Có sông Chợ Củi, có thành Đồng Dương), lò (Gió nam thổi xuống lò Vôi/ Ai đồn với bạn ta có đôi cho bạn buồn),...

Về địa danh hành chính trong ca dao xứ Quảng, có mấy điểm đáng chú ý sau: 1. Có số lượng lớn hơn hẳn so với địa danh chỉ địa hình tự nhiên và công trình xây dựng; 2. Trong phức thể cấu tạo địa danh, nếu hai bộ phận địa danh trước phần lớn có cấu tạo đầy đủ theo mô hình yếu tố chung (tức loại hình địa danh, không viết hoa, như sông, núi, chợ, chùa...) + yếu tố riêng (tức tên riêng, viết hoa, như Thu Bồn, Ngũ Hành, Vạn, Cầu...) thì đại đa số địa danh hành chính không mang yếu tố loại hình (như tỉnh, huyện, quận, xã, thôn...) mà chỉ có tên riêng; 3. Đa số bộ phận địa danh này chỉ các đơn vị hành chính cấp huyện, xã, làng (mô hình: [huyện +] X, [xã +] Y, [làng] Z); 4. Trong ca dao xứ Quảng có nhiều bài “kể” dài, liệt kê hàng chục địa danh (chủ yếu là địa danh hành chính) như là một chức năng đặc thù của ca dao địa danh. Ví như:

Tiếng đồn mì Quảng Phú Chiêm
Cao lầu Phố Hội, mắm nêm Cẩm Hà
Tam Kỳ có món cơm gà
Nam Ô nước mắm đậm đà thơm ngon
Đại Lộc nhiều trái bòn bon
Khoai lang Trà Đỏa, Quế Sơn nếp mường
Cẩm Sa có giống lúa vàng
Gạo ngon thơm phức, trăng tròn mùa thu
Bàn Lãnh có gốc mù u
Cá trôi mùa lũ, sông Thu chảy về
Vĩnh Điện chả lụa khỏi chê
Xu xoa Khúc Lũy, thịt bê Chợ Cầu
Quán Rườn, Chợ Đước Câu Lâu
Bánh tráng cá hấp ở đâu ngon bằng?
Cá thu, cá rựa, cá phèn
Kho rim nước mắm đâu bằng Hội An
Tằm dâu là xứ Trường Giang
Đông Yên bủa kén, nhộng non mít xào
Mỹ Xuyên bí rợ bí đao
Mía mưng, nón lá quai thao tóc thề
Duy Trinh đắp đập khai đê
Cho cây thêm trái sum suê đầy vườn
Đó là đặc sản quê hương
Quảng Nam, Đà Nẵng tình thương quê nhà

Ba là, địa danh trong ca dao xứ Quảng thường gắn với nhiệm vụ phản ánh một số nét đặc trưng nào đó của quê hương về thắng cảnh, thiên nhiên, sản vật, lịch sử xã hội, con người. Đây là một đặc điểm phổ biến của ca dao địa danh trong cả nước. Trong ca dao xứ Quảng, bên cạnh những địa danh phản ánh lịch sử (Ai lên mấy nhánh sông Con/ Hỏi thăm Hường Hiệu có còn đánh Tây; Từ ngày Tây lại cửa Hàn/ Đào sông Câu Nhí, đắp đàng Bồng Miêu), điều kiện tự nhiên (Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm; Mây ráng Sơn Trà không gió thì mưa), cảnh đẹp quê hương (Quê em có núi Ngũ Hành; Em về biển Rạng cùng anh) có số lượng không nhiều, đa số những địa danh còn lại đều gắn liền với các làng nghề, sản vật nổi tiếng ở mỗi địa phương. Trong kho tàng ca dao xứ Quảng, bộ phận địa danh này xuất hiện với mật độ cao, nhiều dạng thức kết hợp. Nếu X là địa danh, y là làng nghề, sản vật hay một truyền thống nổi tiếng nào đó, có thể thấy, ca dao địa danh xứ Quảng xuất hiện dưới dạng các mô hình chủ yếu dưới đây:

1. y + X. Ví dụ như các bài: Nem chả Hòa Vang/ Bánh tổ Hội An/ Khoai lang Trà Kiệu/ Thơm rượu Tam Kỳ hay Tiếng đồn mỳ Quảng Phú Chiêm/ Cao lâu phố Hội, mắm nêm Cẩm Hà; Ốc bươu Ai Thái/ Trâu nái Cát Cao/ Bê thui Cầu Mống/ Cá bống Hội An/ Mua heo chợ Vạn/ Mua búa chợ Chùa...

2. X + y. Chẳng hạn như: Hà Lam đường mía cũng nhiều; Chiêm Sơn là lụa mỹ miều; Vĩnh Điện chả lụa khỏi chê; Mỹ Xuyên bí rợ bí đao...

3. X + có + y. Chẳng hạn như: Ai về chợ Vạn thì về/ Chợ Vạn có nghề nấu rượu nuôi heo; Ai về Bàu Ấu thì về/ Bàu Ấu có nghề đan giỏ cào nghêu; Ai về Trà Quế mà coi/ Trà quế có nghề giâm giá đậu xanh...

4. X1 + có + [y + X2]  (X2 là bộ phận của X1). Chẳng hạn như: Quảng Nam có lụa Phú Bông/ Có khoai Trà Đỏa, có sông Tam Kỳ...

5. X + sản xuất, kinh doanh + y. Ví dụ: Hội An bán áo con trai/ Quế Minh bán nón, Xuân Đài bán tơ; Hội An bán gấm bán điều/ Mã Châu dệt lụa, Trà Nhiêu bán hành; Phú Bông dệt lụa dệt sa...

6. Hỗn hợp. Mô hình này bao gồm nhiều mô hình khác nhau, thường xuất hiện ở những bài ca dao có dung lượng lớn, giới thiệu nhiều sản vật, làng nghề của nhiều địa phương. Ví như: Đá than thì ở Nông Sơn/ Bồng Miêu vàng bạc, Quế Sơn có chè/ Thanh Châu buôn bán nghề ghe/ Thanh Hà vôi ngói, mía che Đa Hòa/ Phú Bông dệt lụa dệt sa/ Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng hay như: Sông Thu chẳng thiếu đò đưa/ Bùi khoai chợ Được, mát dừa Kiến Tân/ Quế Sơn câu mít mấy tầng/ Mê bòn bon Đại Lộc, nhớ rượu cần Trà My...

Có thể nói, với một số lượng lớn những địa danh gắn liền với nhiều nét đặc trưng của quê hương, ca dao xứ Quảng không những phản ánh được phần nào sự đa dạng, phong phú trong đời sống văn hóa, xã hội của địa phương mình mà còn thể hiện ở đó ít nhiều phương diện đời sống tinh thần của con người nơi đây.


Cuối cùng, địa danh trong ca dao còn gắn liền với những tình cảm tốt đẹp của con người xứ Quảng. Trước hết, đó là lòng tự hào, yêu mến đối với quê hương được thể hiện qua việc “khoe” cảnh đẹp, sản vật, làng nghề, truyền thống văn hóa nổi tiếng. Các công thức như Quê em có + y,  X (có) + y... xuất hiện thường xuyên, cùng với đó là giọng điệu tha thiết, trìu mến, say sưa là âm hưởng chủ đạo trong ca dao xứ Quảng, tất cả nói lên rằng, người Quảng yêu mến thiết tha, rất đỗi tự hào về mảnh đất quê hương mình.

Tình cảm tốt đẹp ấy còn thể hiện ở nếp sống tình nghĩa, chan hòa, coi trọng đạo lý của người Quảng. Trong kho tàng ca dao xứ Quảng, có nhiều địa danh được nhắc đến gắn liền với tình đất, tình người đằm thắm, như: Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm/ Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say/ Bạn về nằm nghĩ gác tay/ Hỏi nơi mô ơn trượng nghĩa dày bằng ta; Hội An đất hẹp người đông/ Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu hay Trà My sông núi đượm tình/ Nơi đây là chỗ thượng tinh chan hòa...
Nhiều địa danh trong ca dao xứ Quảng còn được nhắc đến với tư cách là biểu tượng của con người Quảng chân thành, ngay thẳng, thủy chung. Nhiều địa danh được nhắc đến trong ca dao với những mệnh đề giả định phi lý để qua đó, khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của con người xứ Quảng. Chẳng hạn: Bao giờ cầu Mống gãy đôi/ Sông Thu hết nước em mới thôi thương chàng; Bao giờ cạn nước Thu Bông/ Ngập chùa Non Nước lời đồn em mới tin...

Bên cạnh các địa danh của địa phương, trong ca dao xứ Quảng còn có một số địa danh của các địa phương khác. Chẳng hạn: Quảng Nam hay cãi/ Quảng Ngãi hay co/ Bình Định hay lo/ Thừa Thiên ních hết hay như: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình/ Hỏi anh ba tỉnh em thuận tình tỉnh mô... Nhìn chung, đây không phải là những bài ca dao “thuần Quảng”. Phạm vi sử dụng của chúng rộng hơn một địa phương và “tác giả” của chúng là nhân dân của tỉnh nào cũng thật khó xác định. Tuy chiếm số lượng không lớn nhưng bộ phận ca dao này cũng góp phần nhất định vào việc làm phong phú, đa dạng và đặc sắc cho ca dao xứ Quảng nói chung, hệ thống địa danh trong ca dao xứ Quảng nói riêng.

Tóm lại, địa danh trong ca dao xứ Quảng không những có số lượng lớn, tần số xuất hiện cao, đa dạng về loại hình, nguồn gốc và phương thức định danh mà còn mang trong mình nhiều đặc trưng về tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội của vùng đất Quảng xưa, nay. Đặc biệt, địa danh trong những bài ca dao này còn phản ánh phần nào đời sống tinh thần cũng như tâm hồn, tính cách, lối sống của con người xứ Quảng. Tìm hiểu ca dao địa danh xứ Quảng, nhờ đó, có thể hiểu thêm về đất và người xứ Quảng trong tiến trình lịch sử.

Phạm Tuấn Vũ
Bài đăng trên
- Tạp chí Non Nước
- Tạp chí Văn hóa Phật giáo

Đọc tiếp…

Ảnh : ĐÈN LỒNG PHỐ CỔ (Phạm Duy Nghĩa)

06:49 |







Đọc tiếp…

Ảnh : CHIỀU TRÊN HỒ PHÚ NINH

12:21 |


Nguồn : facebook Tôi yêu Phú Ninh




Đọc tiếp…

Ảnh : NẮNG SỚM TRÊN HỒ PHÚ NINH

03:34 |


Ảnh : Võ Thị Phương Hậu-Tam Dân
Nguồn : Tôi yêu Phú Ninh



Đọc tiếp…

Ảnh : HỒ PHÚ NINH TRONG SƯƠNG

03:31 |


Ảnh : Hải-Tam Dân


Đọc tiếp…

Ảnh : MỘT GÓC HỒ PHÚ NINH

03:27 |




Người chụp : Phạm Tuấn Vũ
Ngày chụp : 07.06.2015




Đọc tiếp…

HỒ PHÚ NINH (Ảnh của Phạm Minh Tuấn)

07:32 |








Đọc tiếp…

PHỐ CỐ HỘI AN (Ảnh của Phạm Duy Nghĩa)

01:19 |












Đọc tiếp…

MỘT GÓC TAM KÌ (Ảnh của CHS Phạm Duy Nghĩa)

00:03 |







Đọc tiếp…

HOA TRẮNG BÊN ĐƯỜNG (Ảnh của Phạm Tuấn Vũ)

19:11 |











Đọc tiếp…

ĐI TÌM GỐC TÍCH ĐỊA HIỆU KIM HỘ THUỘC (TỨC XỨ SỞ VÀNG) - Thầy Phạm Văn Tưởng

02:33 |

Trong một thời kỳ dài, kể từ năm khi vua Lê Thái Tông đánh đuổi quân Minh, giao cho Nguyễn Trãi viết Dư địa chí vào năm 1435, khi đó Phủ Thăng hoa quản 3 huyện, gồm 23 xã. Trong đó Huyện Hà Đông quản 8 xã (không thấy nói có tổng). Tuy đưa vào bản đồ nước ta, nhưng toàn bộ đất Thăng Hoa Tư Nghĩa (trải từ Duy xuyên đến tận Quy Nhơn) về thực chất vẫn do người Chiêm Thành kiểm soát. Đến năm Hồng Đức thứ 3 (1973), vua Lê Thánh Tông mới bình định xong vùng đất mới này và đổi tên là Quảng Nam thừa tuyên, đây cũng là thời điểm để đánh dấu mở đất Quảng Nam. Đến năm Hồng Đức thứ 2 (1491) dư đồ cả nước được điều chỉnh, có tất cả 13 Thừa tuyên, khi ấy Thừa Tuyên Quảng Nam quản 3 phủ, 9 thuộc huyện. Phủ Thăng Hoa, tuy có sát nhập, đổi tên địa hiệu nhưng vẫn có 3 thuộc huyện như trước (địa hiệu 3 huyện lúc này là Lễ Dương, Duy Xuyên và Hà Đông), nhưng có kiến lập thêm tổng. Hà Đông trong gần suốt thời Lê địa giới khá rộng, bao gồm 8 tổng, 46 xã. Qua nhiều lần thay đổi danh giới địa chính, nhất là trong giai đoạn đầu triều Nguyễn (Gia Long Minh Mạng), đất Hà Đông bị thu hẹp rất nhiều. Năm Thiệu Trị Nguyên niên (1841) địa hiệu Thăng Hoa Phủ bị xóa bỏ và thành lập Phủ Thăng Bình, giai đoạn đầu huyện Hà Đông là đơn vị trực thuộc phủ này. Phần đất Hà Đông chính và Hà Đông tân bị cắt cho các đơn vị bạn, từ đó trở đi, Huyện Hà Đông chỉ còn lại phần đất phía nam của Tỉnh, hiện nay đã chia tách thành huyện Núi Thành, Phú Ninh và thành phố Tam Kỳ.

Khoảng thời gian dài nói trên, có một thời kỳ ngắn huyện Hà Đông được gọi là Kim hộ thuộc. Từ “thuộc” được hiểu như “huyện”. Thời đầu Lê dùng từ kép “thuộc huyện”, cả thời Lê nói chung dung 5 từ “thuộc nội phủ Kim hộ” để chỉ đơn vị thuộc phủ. Thời Tây Sơn bỏ bớt, gọi là “Kim hộ thuộc” thay cho Hà Đông huyện. Việc dùng 5 từ hay 3 từ chỉ địa danh như trên, là để chỉ đơn vị thuộc phủ có quản những hộ khai thác vàng cho nhà nước phong kiến nước ta. Đối chứng với một số giấy tờ công của triều Tây Sơn và triều Gia Long, đều ghi “Kim hộ thuộc” thay cho “Hà Đông huyện”. Các sắc chỉ của Quang Trung, Cảnh Thịnh, Gia Long cũng như một số bằng cấp trao chức tước, trao nhiệm vụ cho các yêu thân hồi đó, đều ghi Thăng Hoa phủ, Kim hộ thuộc là huyện quản các hộ khai thác và nạp thuế bằng vàng. Đây là chi tiết lịch sử riêng Hà Đông mới có. Thời Hội An buôn bán tấp nập, các thương nhân nước ngoài đều gọi Quảng Nam là “xứ sở vàng”. Sự thật thì các nguồn có khai thác vàng hồi đó đều xếp vào” thuộc nội phủ kim hộ” tức là huyện Hà Đông.

Giai đoạn từ thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ 19, việc khai thác vàng ở Hà Đông rất thịnh, nhất là thời họ Nguyễn đã giành riêng cho mình quyền khai thác kim loại quý ấy. Công trường vàng của họ Nguyễn tập trung đến hàng ngàn người bao gồm cả binh lính và dân phu. Người giàu ở địa phương thông đồng với quan lại bỏ vốn ra thầu cả những quả núi lớn và giữ độc quyền khai thác. Họ Nguyễn bắt nộp thuế vàng rất nặng, tuy vậy người giầu vẫn kiếm được lợi nhuận rất lớn, hàng năm đem về Hội An cả ngàn thỏi để xuất khẩu. Nghề khai thác vàng hồi ấy có 2 cách, xắp vỉa để lấy quặng lọc đãi ra vàng và cách thứ 2 là lặn xuống nguồn sông xúc cát lên để đãi, bòn vụn vàng trầm tích. Những người có thân thế, nhiều tiền cống nộp quan lại mới được khai thác ở vỉa quặng, còn người dân Hà Đông thì đa số phải đãi vàng cát ở lòng sông. Dân vàng ở Hà Đông nói riêng và Quảng Nam nói chung còn gọi là dân chánh hộ, phải nộp thuế vàng rất nặng. Dân khách hộ, chủ yếu người Thuận Hóa nộp thuế vàng nhẹ hơn nhưng phải đi lính, nên dân gian địa phương có câu là:

        Em còn lưỡng lự đôi đàng
Dân khách ngại lính, dân vàng thuế cao,…

Tài nguyên vàng ở Quảng Nam, đã được các nhà nước phong kiến phương Bắc chú ý rất sớm (từ thế kỷ thứ 5) chú ý, trong Lương thư (chính sử Nhà Lương) có đoạn ghi: “…nước đó có núi vàng, đá đều màu đỏ, trong đó sinh ra vàng, ban đêm bay ra trông như đom đóm,…” (Nguồn: Lịch sử Việt Nam tập I, Nxb Đại học chuyên nghiệp 1983, trang 309). Nhưng công việc khai thác vàng đến thời thuộc Minh mới bắt đầu hình thành và phát triển, duy trì suốt qua các triều đại nhà Lê, nhà Nguyễn, cho đến những năm thực dân Pháp chính thức đặt ách thống trị nước ta, Pháp tập trung khai thác tại Bồng Miêu, huyện Phú Ninh hiện nay. Tính chất gian khổ của nghề khai thác vàng không chỉ ở cường độ lao động bỏ ra mà còn ở chỗ rủi may khi có, khi không, khi nhiều, khi ít, có khi có khai thác nhưng không đủ thuế suất để nộp thì bị trách phạt rất nặng. Có nơi, có năm dân phu trong các xã thiếu thuế vàng, bị ra lệnh xóa bỏ tên xã, chức dịch của xã phải chạy vạy kêu xin đủ cấp rất gian khổ. Một số xã dựng lên miếu cầu vàng, hàng năm phải tế khai kim để dân vàng đến ăn chay nằm đất, cầu đảo trước khi lên đường đi làm vàng (Trong Phủ biên tạp lục trang 225, có ghi tên 2 miếu cầu vàng ở Dương đàn và Trà Cam-có thể là địa danh Chiên Đàn và Trà Cai ngày nay). Triều Tây Sơn căn cứ dân lao động trong huyện sản xuất ra vàng, nên không để địa hiệu Hà Đông huyện như các triều đại trước mà đổi gọi là “Kim hộ thuộc”.

Xét về cội nguồn tên địa hiệu Kim hộ thuộc đến suốt đời Gia Lông vẫn còn ghi trên giấy tờ công. Sau Gia Long thì trở lại ghi địa hiệu như cũ: Thăng Hoa Phủ, Hà Đông huyện rồi đến các xã. 

PVT


Đọc tiếp…

HỒ PHÚ NINH MÙA CẠN (Ảnh Nguyễn Thanh Hải)

20:57 |







Đọc tiếp…

Ảnh : QUÊ NHÀ (Phạm Tuấn Vũ)

09:08 |




Chụp tại tổ 5, thôn 7
ngày 1/5/2014
bởi Phạm Tuấn Vũ



Đọc tiếp…

Nghiên cứu : MỘT VÀI TÌM TÒI VỀ VĂN HỌC HÀ ĐÔNG XƯA (Thầy Phạm Văn Tưởng)

03:41 |
Phan Châu Trinh


Trải qua gần 600 năm mở đất, với bao biến cố lịch sử, người Hà Đông xưa phải chịu đựng biết bao gian khổ, bền bỉ đấu tranh với thiên nhiên, thú dữ và những cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ hy sinh chống ách thống trị của ngoại bang để dành độc lập tự do đã hun đúc nên những truyển thống tốt đẹp và phẩm chất cao quý của con người. Đó là lòng yêu nước nồng nàn; ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất; tinh thần đoàn kết thống nhất; tinh thần độc lập, tự do, tự cường; đức tính cần cù, chất phát, kiên trì, mưu trí, thông minh, sáng tạo và lạc quan trong cuộc sống. Tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất đã trở thành bản chất cố hữu của con người Hà Đông xưa, được thể hiện khá rõ nét trong các sáng tác văn học cùng thời.

Thông thường, dòng văn học chính thống luôn phản ánh những tư tưởng, ý thức hệ và truyền thống, đạo đức cộng đồng dân tộc. Nội dung văn học Việt Nam xưa cơ bản do ý thức chính trị phong kiến, triết lý Nho học quyết định và có sự tiếp thu, chọn lọc của nền văn hóa, văn học phương Tây. Sự kết hợp những yếu tố trên với tài năng và tấm lòng trong sáng đã đem tới cho các thế hệ sang tác văn học Việt Nam xưa ý chí, tình yêu vô bờ bến, vững bước với sự nghiệp của dân tộc. Hà Đông cũng đóng góp một phần với với văn học Quảng Nam và cả nước. Hà Đông không có ai trong số “tứ kiệt” và “tứ hổ”, nhưng trong số đó có cụ Huỳnh Thúc Kháng cụ Phan Châu Trinh thời đó còn là người của đất Tam Kỳ, là 2 trong số 3 vị đi Nam du vào tháng 5/1905. Trong chuyến đi ấy, các cụ đã có 2 tác phẩm tập thể rất nổi tiếng lúc bấy giờ. 

Cụ Phan Châu Trinh sinh ngày 9/9/1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam, hiệu là Tây Hồ Hy Mã, tự là Tử Cán. Khoa Canh Tý (1900), đỗ cử nhân, năm sau (1901), triều đình mở ân khoa, cụ đỗ phó bảng, về quê chịu tang anh và dạy học đến năm Quý Mão (1903) thì được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ. Là người có học vấn, lại tiếp xúc với nhiều người có tư tưởng canh tân và đọc được các tân thư, năm 1905, ông từ quan, rồi cùng với hai bạn học là Trần Quý CápHuỳnh Thúc Kháng làm cuộc Nam du, với mục đích xem xét dân tình, sĩ khí và tìm bạn đồng chí hướng. Đến Bình Định, gặp kỳ khảo hạch thường niên của tỉnh (1905), vào trường thi cụ đã làm một bài thơ, sau này chỉ có một nguyên tác bằng chữ nho, mà trong Nam ngoài Bắc có rất nhiều bản dịch ra Việt văn. Chủ đề bài thơ dụng ý đả kích văn chương phù phiếm, không ích gi cho việc dân, việc nước và cố thức tỉnh tinh thần yêu nước, phá bỏ kiếp ngựa trâu. Bài thơ được dịch như sau:

Cuộc đời ngoảnh lại vắng không
Giang sơn nào khóc anh hùng được đâu
Cưỡng quyền dậm đạp mái đầu
Văn chương tám vế sang câu mơ màng
Tháng ngày uất hận đành cam
Sổ lồng tháo cũi biết làm sao đây
Những ai tâm huyết vơi đầy
Dốc lòng văn đạo, thơ này thấu cho

Trước thời cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng ở Hà Đông đã có nhiều người đỗ đạt và có một số đại khoa. Cụ Trần Văn Dư đỗ tiến sỹ năm 1875, chức vụ cuối cùng của cụ là Sơn phòng sứ, nên người đương thời gọi là cụ Sơn Dư. Tác phẩm văn học cụ để lại, mới tìm thấy bản sao di ngôn tuyệt mệnh; đáng chú ý là các bản cáo thị Cần Vương bằng chữ nôm (bản sao) ra ngày 22/7/1885 (năm Hàm Nghi nguyên niên). Cáo thị có nội dung như lời hịch, kêu gọi sĩ phu và nhân dân toàn tỉnh ứng nghĩa của vua Hàm Nghi.

Đồng thời với cụ Trần Dư, có cụ Nguyễn Dục đỗ phó bảng năm Minh Mạng thứ 19 (Mậu Tuất, 1938), người làng Chiên Đàn, tổng Chiên Đàn Trung (nay là thôn An Thọ, xã Tam An, huyện Phú Ninh, Quảng Nam). Sự nghiệp văn chương của cụ chưa sưu tầm được tác phẩm nào. Lúc giữ chức Hoàng thân giảng tập, được vua Tự Đức phê là hà mô phạm, đạo đức xứng đáng. Bên cạnh đó còn có cụ Nguyễn Thích (con cụ Nguyễn Dục) cũng đỗ tiến sĩ, các cụ Nuyễn Đình, Trịnh Luyện đều đỗ cử nhân, ra làm quan; cụ Trần Hoán người làng Chiên Đàn (Tam An) đỗ cả cử nhân văn, cử nhân võ, tham gia Nghĩa Hội (1885) và từ trần; cụ Phan Bá Phiến người làng Tân Lược (Tam Tiến) đỗ cử nhân làm Tri huyện, rồi bỏ về làm đứng trong hàng ngũ thủ lĩnh Cần Vương Quảng Nam và hy sinh oanh liệt. Cán cụ tuy không để lại, hoặc chưa tìm ra được tác phẩm nào nhưng khí tiết và lòng yêu nước mãi mãi được lịch sử ghi nhận muôn đời.

Ngoài bộ phận văn học của các cụ đỗ đạt các khoa cử ra làm quan, trong sự nghiệp văn học Hà Đông xưa, còn một số không ít các cụ là tú tài và các học giả không khoa bảng. Các tác phẩm này, phần lớn sử sách xưa không ghi chép. Qua truyền miệng, cho thấy tác phẩm ở mỗi cụ có mỗi phong cách riêng: Tinh thần yêu dân tộc của cụ tú Nguyễn Tấn Chí lồng trong khung cảnh người cùng dân Việt Nam còng lưng kéo xe cho quan Tây Nam ngồi vênh váo:

Rầm rột chi hung xe hởi xe
Ấy ai đụng đến, hãy kiêng dè
Phong trần kẻ dưới cong lưng chạy
Địa vị người trên, vểnh mặt khoe
Tay nắm 2 bên đà tính chắc
Minh lăng mấy bận cũng đành nghe
Cho hay cái giống tròn mà chạy
Đường lợi đua nhau cả bạn bè

Tinh thần yêu quê hương của bà Giáo Thọ Tạ Quang Diệm lại lồng trong cảnh núi sông tương đẹp của Tam Kỳ, bị thực dân Pháp chà đạp, bòn rút.

Bài thơ của cụ Lang Rường lại đề cao phong thái người thợ rèn bình thường, nhưng lại rất có công với xã hội:

Lò tạo xoay vần, thợ trời thay đổi
Lời sắt đinh căn dặn kẻ trăm năm
Kiếp tro bụi phanh phui người một lối
Mình bương trên bệ, kẻ gươm đao theo công sức đồi mài
Tay dựng nên lò, người cày cuốc phải nhớ ơn.

Cụ tú Quờn ở Khương Mỹ (Tam Xuân) thì lại nổi tiếng về văn chương trào phúng. Trong làng văn học ở Hà Đông thưở ấy còn không ít những cụ học cao nhưng chưa đỗ đạt, nên nhân dân có câu nhận xét: Hà Đông có 4 anh tài: Luyện Tươi, Ngộ Chín, Hoàng Hùng, Ích Trơn. Cụ Trịnh Luyện hỏng khoa đầu, sau mới đỗ cử nhân. Một số trong các cụ có nhiều tác phẩm nhỏ được nhân dân lưu truyền.

Sang giai đoạn học Pháp-Việt, Hà Đông cũng có một số người đỗ đạt, nhân dân cũng gọi là “ông Tú”, nhưng đều không có tác phẩm văn học nào. Vài ba người ra làm báo, có một số tác phẩm đăng trên các báo, nhưng đến nay vẫn chưa có ai sưu tầm và chon lọc. Trong một số đông giáo học, có một số hương sư tham gia hoạt động cách mạng, có sáng tác theo chủ đề tư tưởng mới, thuộc phạm trù vô sản. Nói chung thồi Pháp thuộc, nền văn học ở Hà Đông phát triển hạn chế, bởi chính sách ngu dân của chế độ thực dân phong kiến.

Tóm lại nói đến Tam Kỳ (nay đã chia tách thành 03 đơn vị hành chính: Tam Kỳ, Núi Thành, Phú Ninh), Hà Đông xưa là nói về phong thái của họ trong cuộc sống, từ lao động sản xuất, nếp ăn nếp ở cho đến cuộc sống có văn hóa, có học hành, có kiến thức, xử sự đối với mình, với bạn và với kẻ thù. Từ môi trường sống ngày xưa không được thuận lợi mấy và sống trong xã hội đầy dẫy bất công, áp bức bóc lột đã rèn luyện cho họ những truyền thống đạo đức tốt đẹp, cần cù, bền bỉ trong lao động sản xuất. Đoàn kết, thống nhất yêu thương, đùm bọc lẫn nhau trong khó khăn gian khổ, kiên cường bất khuất trong đấu tranh với quân thù. Đó cũng là lẽ sống của người Hà Đông xưa, thể hiện qua các phong trào yêu nước ở thời kỳ đấu tranh dân tộc trước ngày có Đảng. Khi cao khi thấp, lúc mạnh lúc yếu, nhưng liên tục không bao giờ tắt.

Thầy Phạm Văn Tưởng
Cựu giáo viên


Đọc tiếp…

ẢNH : NẮNG MAI (Phạm Tuấn Vũ)

03:20 |









Chụp tại tổ 5 thôn 7
ngày 2/5/3013
bởi Phạm Tuấn Vũ



Đọc tiếp…